Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của mặn trên cây trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long
Thứ ba, 25/2/2020

Ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, cụ thể là hạn hán và xâm nhập mặn, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp cây trồng, thảm thực vật bị thiếu nước tưới, nhiễm muối mặn giảm năng suất hay mất trắng, đất đai thoái hóa làm thay đổi hệ sinh thái môi trường và phương thức canh tác. Do đó, để hạn chế tác hại của mặn trên lúa và cây ăn trái, GS TS Nguyễn Bảo Vệ (Nguyên Trưởng khoa Nông nghiệp, Giảng viên cao cấp, Trường Đại học Cần Thơ) báo cáo trong Hội thảo -Tọa đàm “Giải pháp ứng phó hạn, mặn cho cây trồng và vật nuôi vùng Đồng bằng sông Cửu Long” cho rằng cần phải biết mặn gây tổn thương cho cây trồng như thế nào, từ đó tìm ra những biện pháp hạn chế tác hại của nó.

1. Tác hại của mặn đối với cây trồng

            Tác hại của mặn trên cây trồng có thể được xếp vào 3 nhóm chính:

  • Cây trồng không hút được nước.
  • Cây trồng không hấp thụ được dưỡng chất.
  • Gây ngộ độc cho cây trồng. 

1.1 Cây trồng không hút được nước (chết do khát)

Muối mặn trong nước làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường nước quanh rễ làm cây không hút được nước. Chỉ một thời gian ngắn sau khi bị mặn (thường không quá 1 giờ) cây trồng đã có triệu chứng thiếu nước. Khi thiếu nước, lá non của lúa cuộn tròn, còn lá già mo lại. Ở cây ăn trái, thiếu nước làm lá bị mềm và rủ xuống. Thiếu nước làm cho các tiến trình biến dưỡng trong cây bị rối loạn.

1.2  Cây trồng không hấp thụ được dưỡng chất (chết do đói)

Chất Na của muối mặn đối kháng với các dưỡng chất như NH4+, K+, Ca2+ và Mg2+, làm cho cây trồng khó có thể hấp thụ được các dưỡng chất nầy. Bên cạnh đó, chất Cl- của muối cạnh tranh không cho cây hấp thụ các dưỡng chất NO3-, H2PO4-, HPO42-, SO42-. Do đó sau một thời gian bị mặn, cây trồng thể hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng. Dễ thấy nhất là lá bị mất diệp lục tố vàng đi, sự sinh trưởng của cây bị đình trệ rồi chết dần. Triệu chứng nầy không xảy ra tức thì, thường thì sau vài tuần bị mặn. Nếu độ mặn cao, cây trồng thể hiện triệu chứng ngộ độc trước khi thể hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng.

1.3 Cây trồng bị ngộ độc (chết do độc)

Sau khi rễ cây hấp thụ muối mặn, muối được đưa lên lá. Ở đây tiến trình thải loại như ứa nước, thoát hơi nước diễn ra làm cho nồng độ muối tăng cao đến ngưỡng độc làm chết tế bào, gây cháy lá. Triệu chứng dễ thấy nhất là chóp lá bị cháy khô. Bên cạnh việc ngộ độc trực tiếp do muối, cây trồng còn bị một ngộ độc khác là không phân giải được những chất oxy hóa mạnh như hydrogen peroxide (H2O2), gốc superoxide (O2-), … trong điều kiện bị stress mặn. Hậu quả là hình thành những gốc độc hydroxyl làm chết tế bào dẫn đến cháy lá. Triệu chứng dễ thấy nhất là những lá già bị chết khô.

2. Biện pháp hạn chế tác hại của xâm nhập mặn đến cây trồng ở ĐBSCL

2.1 Giúp cây trồng có được nước ngọt

Có 2 cách giúp cây trồng có được nước:

  • Theo dõi thủy triều để lấy nước ngọt. Độ mặn trong kênh, rạch không giữ cố định mà thay đổi theo con nước “kém” hay “rong” trong tháng và thay đổi theo nước “lớn” hay “ròng” trong ngày. Vào thời điểm con nước kém (khoảng mùng 9-10 và 24-25 âm lịch, 2 con nước mỗi tháng), nhà vườn canh lúc nước ròng để lấy nước ngọt, vì lúc này nước biển xuống thấp nhất đó là cơ hội để nước ngọt trong sông đẩy mặn lùi xa ra biển. Lưu ý: Vùng chịu ảnh hưởng triều biển Đông có 2 lần nước ròng trong ngày, nhưng triều biển Tây chỉ có 1 mà thôi. Lưu ý, không nên sử dụng nước giếng khoan để tưới, dành nguồn nước quý này cho sinh hoạt.
  • Làm tăng khả năng hấp thụ nước của cây. Thông thường cây trồng sản sinh ra chất proline để cải thiện khả năng hút nước của nó trong điều kiện bị mặn. Tuy nhiên, lượng proline tạo ra không đủ cho cây chiến thắng được lực giữ nước của muối mặn trong đất. Do vậy, cần phải phun chất điều hòa sinh trưởng thực vật Brassinolide để giúp cây trồng sản sinh proline nhiều hơn, gia tăng tiềm thế nước của cây, cải thiện sự sinh trưởng và năng suất trong điều kiện bị mặn.

2.2 Giúp cây trồng hấp thụ được dưỡng chất

Đất bị mặn thường làm cho tình trạng ngộ độc phèn trở nên nghiêm trọng hơn. Cần đo độ chua nước ruộng để chọn loại phân bón cho phù hợp. Có thể bón bổ sung các loại phân bón sau đây:

  • Bón phân N. Bón các dạng phân ure chậm tan như đạm vàng (Ure 46A+) hoặc đạm xanh (Ure+Neb26) để cây không bị chết đói khi bị mặn. Nếu trị số pH nước trên 5,5 có thể bón phân N dạng SA.
  • Bón phân P. Bón phân DAP-Avail để hạn chế hiện tượng cố định P do Fe và Al ở đất chua. Nếu trị số pH trong nước ruộng trên 5,5 có thể bón phân P dạng Super lân.
  • Bón phân K. Bón phân KCl để hạn chế đối kháng của muối mặn Na đối với K, giúp cây trồng hấp thụ được K. Nếu trị số pH của nước ruộng trên 5,5 có phể bón K dạng K2SO4.
  • Phun phân KNO3 qua lá. Nếu ruộng bị khô không thể bón phân qua rễ được, phải phun KNO3 qua lá với nồng độ là 10 g/L. Phun ướt đẩm cả 2 mặt lá.

2.3 Biện pháp giúp cây chống chịu ngộ độc mặn

            Có thể áp dụng những biện pháp sau đây để giảm nhẹ tác hại của độc chất do mặn gây ra.

  • Bón Ca. Canxi giúp lúa chống chịu mặn. Nếu đất canh tác bị chua nên bón vôi hay Đầu Trâu mặn phèn để cung cấp Ca cho cây trồng đồng thời hạ phèn. Nếu trị số pH của nước ruộng trên 5,5 có thể bón CaSO4 để cung cấp Ca đồng thời hạn chế tác hại do Cl- của muối mặn.
  • Bón Si. Nhiều nghiên cứu cho thấy Si giúp cây ngăn chận sự hấp thụ Na đồng thời kích thích cây sản sinh những enzyme có khả năng phân giải những chất oxy hóa mạnh trong cây, làm giảm độc cho cây khi bị mặn.
  • Phun chất điều hòa sinh trưởng thực vật Brassinolide. Hormone Brassinolide giúp cây sản sinh ra những enzyme như catalase, peroxidase, superoxide dismutase. Các enzyme nầy phân giải những chất hay gốc oxy hóa mạnh làm giảm độc cho cây khi bị mặn.

3. Phòng chống tác hại của mặn cho vụ lúa Hè Thu

            Để đề phòng tác hại của mặn gây ra cho vụ lúa Hè Thu sắp tới, cần áp dụng những biện pháp sau đây:

3.1 Thời vụ xuống giống lúa

            Trước tình trạng khô hạn thiếu nước, mặn xâm nhập sâu, và thời tiết nóng như hiện nay, cần phải thực hiện nghiêm túc khuyến cáo của địa phương về thời điểm xuống giống vụ Hè Thu để cây lúa phát triển được tốt nhất.

3.2 Sử dụng giống lúa chịu mặn

            Đồng Bằng Sông Cửu Long có nhiều giống lúa địa phương chịu mặn khá. Có thể sử dụng các giống lúa ngắn ngày chịu mặn như OM5451, OM2517, OM6976, OM6162, OM9921, GKG1, OM6677.

3.3 Kỹ thuật chuẩn bị đất trồng lúa

  • Làm đất. Cày hoặc xới đất ngay sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân để cắt mao dẫn phèn,  phân hủy rơm rạ, hạn chế sâu bệnh, có thời gian phơi ải đất, ...
  • Bón vôi. Trước khi xuống giống khoảng 2 tuần tiến hành bón vôi đều khắp ruộng để đuổi mặn, hạ phèn. Bón từ 30-50 kg loại “đá vôi nung”/công 1.000m2.
  • Ngâm nước ruộng. Sau khi bón vôi, đưa nước vào ngâm ruộng tối thiểu khoảng 2 tuần để độc chất mặn và phèn đi ra dung dịch đất. Xả bỏ nước ruộng cạn đến đáy rãnh phèn, vì ở thời điểm nầy độc chất phèn và mặn trong dung dịch đất rất cao.
  • Đánh rãnh phèn. Đánh nhiều rãnh phèn trong ruộng. Chiều rộng của rãnh phèn khoảng 20 cm và sâu khoảng 20 cm, các rãnh cách nhau khoảng 6 m.
  • Cường sức hạt giống. Để tăng sức chống chịu của hạt giống với điều kiện bất lợi của môi trường khi ở trên đồng, có thể bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thực vật brassinolide lúc ngâm ủ giống.
  • Áp dụng kỹ thuật “sạ nước”. Nếu đất canh tác không được bằng phẳng, nên áp dụng kỹ thuật “sạ nước” để hạn chế tác hại của nắng nóng gây luộc giống hay quéo mộng. Sạ nước khác với sạ ngầm. Để áp dụng thành công phải thực hiện đúng kỹ thuật từ cách ủ giống, làm đất và giữ mực nước ruộng lúc sạ.
  • Bón phân. Đất chua nên bón lót phân P như phân Đầu Trâu Mặn Phèn. Còn đất có vùi nhiều rơm rạ nên phun vi khuẩn phân hủy rơm rạ.

4. Hạn chế tác hại của mặn trên vườn cây ăn trái

            Líp vườn ở những vùng đất nhiễm mặn phải rộng và trồng cách xa bờ mương để ít bị thiệt hại khi mương vườn bị mặn. Ngay cả việc trồng giống cây ăn trái chịu mặn giỏi cũng không nên đưa nước mặn vô mương vườn, vì nước mặn thấm vô hai bên bờ líp mao dẫn lên mặt líp, nước bốc hơi mặn sắc lại làm độ mặn trong đất tăng lên gấp nhiều lần gây hại cây trồng và làm đất bị mặn nhiều năm sau đó. Để phòng chống mặn cho vườn cây ăn trái, nên áp dụng các biện pháp sau đây:                

4.1 Phòng ngừa vườn cây bị mặn

  • Ngăn mặn.  Gia cố cống đập, đê bao và bờ bao ngăn mặn. Lưu ý đất sét ở ĐBSCL dễ bị co rút gây nứt nẻ khi khô, vì vậy khi đấp đất cần phải tấn nylon để mặn không theo đường nứt xâm nhập vào vườn.
  • Trữ nước ngọt.  Phải trữ nước ngọt trong mương vườn lúc nào cũng đầy. Nếu được, sử dụng một đoạn kênh, rạch, ao đìa để trữ thêm nước, bảo đảm đủ nước tưới cho cây trong suốt mùa nắng.
  • Đo mặn.  Mặc dù có theo dõi dự báo xâm nhập mặn, nhưng trước mỗi lần đưa nước vào mương vườn phải đo lại độ mặn; Khi đo mặn phải kiểm tra độ chính xác của dụng cụ đo mặn, dùng nước khoáng đóng chai có độ mặn bằng không kiểm tra; Vị trí đo mặn trong kênh rạch phải ở ngay đầu nguồn nước đưa vào vườn, hoặc đo ở vị trí đầu máy bơm nước; Kiểm tra độ mặn thường xuyên trong thời gian lấy nước ngọt vì độ mặn trong sông, rạch luôn thay đổi nhất là thời điểm nước “đứng lớn”.
  • Ngăn chặn thất thoát nước. Có 3 nơi thất thoát nước trong vườn cây ăn trái: (a) Nước bốc hơi ở mương vườn: Lục bình, bèo, cỏ dại trong mương vườn làm gia tăng lượng nước bị mất, cần phải được làm sạch. Phủ nylon hay màng phủ nông nghiệp lên mặt nước để giảm bốc hơi; (b) Nước bốc hơi qua mặt đất líp: Cỏ dại làm tăng mất nước ở líp vườn, cần được làm sạch. Phải phủ líp bằng những vật liệu có sẳn tại địa phương như rơm rạ, lá dừa, lá mía… có thể dùng nilon hay màng phủ nông nghiệp trải lên mặt líp; (c) Nước thoát hơi qua mặt lá của cây: Trên bề mặt lá của cây có nhiều khí khổng thoát nước. Vì vậy, cần tỉa bỏ những lá nằm khuất trong tán quang hợp kém, để giảm lượng nước mất do thoát hơi.

4.2. Những việc cần làm khi vườn cây khi bị mặn

Vườn cây ăn trái bị mặn là một tai nạn, không những gây tổn thương trước mắt cho cây mà di chứng làm cho đất xấu đi nhiều năm sau đó. Do đó, nhà vườn cần thực hiện những biện pháp sau:

  • Giảm nhu cầu nước của cây. Tỉa bỏ bớt cành lá, bông, trái nhất là đọt non nhằm làm giảm tiêu hao nước qua thoát hơi và giảm tiêu hao dinh dưỡng trong cây.
  • Giảm mất nước trong líp. Che phủ mặt líp bằng những vật liệu có sẳn tại địa phương hay màng phủ nông nghiệp.
  • Tăng khả năng chịu mặn cho cây. Phun các chế phẩm có hormone brassinolide hay humic acid.
  • Cung cấp dinh dưỡng cho cây. phun phân KNO3 qua lá với nồng độ là 10 g/L. Phun ướt đẩm cả 2 mặt lá.

4.3 Bón phân cho vườn cây có nước ngọt

  • Rửa mặn đã tích tụ trong đất. Xới nhẹ lớp đất mặt và dùng nước sông rạch hay nước mưa để rửa mặn. Nên bón phân có canxi để rửa mặn được nhanh hơn. Có thể bón phân vôi, thạch cao với liều lượng 300 – 500 lkg/ha hoặc bón phân Đầu Trâu Mặn-Phèn với liều lượng 100-160 kg/ha.
  • Bón phân cho vườn cây đã thu hoạch. Bón phân để cây mau phục sức, nuôi cành lá mới chuẩn bị cho vụ tiếp theo. Xới đất thành băng xung quanh gốc theo hình chiếu của tán, rộng khoảng 50 cm và sâu khoảng 10 cm. Nếu liếp trồng hai hàng và cây đã giáp tán thì xới một băng dài giữa liếp và băng xương cá giữa 2 cây trên hàng. Bón phân vào những băng đã xới. Phân đa lượng N, P và K bón cho cây giai đoạn nầy có tỷ lệ N cao. Phân được chuẩn bị bằng cách trộn 2 phần urê + 2 phần DAP + 1 phần KCl hoặc sử dụng phân “Đầu Trâu AT1“ để bón với liều lượng 1-2 kg/cây/lần tùy theo loại và tình trạng sinh trưởng của cây.
  • Bón phân cho vườn cây trước khi ra hoa. Khoảng 1-2 tháng trước khi cây ra hoa tiến hành bón phân. Bón phân lần nầy để giúp những lá đang phát triển mau trưởng thành, không cho chồi mới mọc ra nữa gây cạnh tranh dinh dưỡng và cũng để kích thích sự phân hóa mầm hoa. Phân N, P và K bón cho cây giai đoạn nầy có tỷ lệ P cao. Phân được chuẩn bị bằng cách trộn 2 phần DAP + 1 phần KCl hoặc sử dụng phân “Đầu Trâu AT2” để bón với liều lượng từ 1-2 kg/cây/lần tùy theo loại và tình trạng sinh trưởng của cây
  • Bón phân cho vườn cây giai đoạn đậu trái và trái phát triển. Bón phân ở giai đoạn đậu trái là nhằm hạn chế rụng trái non, còn bón phân lúc trái phát triển là để gia tăng kích thước và chất lượng trái, vì đây là giai đoạn trái tích lũy chất dinh dưỡng. Dưỡng chất N, P và K bón cho cây ở giai đoạn nầy có tỷ lệ K cao. Kali là chất của chất lượng, bón nhiều kali là để tăng cường sự chuyển vận sản phẩm quang hợp từ lá vào trái. Phân bón được chuẩn bị bằng cách trộn 1 phần urê + 2 phần DAP + 2 phần KCl hoặc sử dụng phân “Đầu Trâu AT3” để bón với liều lượng từ 1-2 kg/cây/lần tùy theo loại và tình trạng sinh trưởng của cây.  Ở giai đoạn nầy, phân có thể được bón nhiều lần. 

Huy Thảo - Phòng BVTV

                                                  Trích từ báo cáo Hội thảo -Tọa đàm “Giải pháp ứng phó hạn, mặn cho cây trồng và vật nuôi vùng ĐBSCL” của GS TS Nguyễn Bảo Vệ (Nguyên Trưởng khoa Nông nghiệp, Giảng viên cao cấp, Trường ĐH Cần Thơ)

 

Các thông tin khác: