Phát triển và sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam
Thứ năm, 25/6/2020

Thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV) là vật tư quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đã góp phần lớn vào việc phòng trừ sinh vật gây hại, bảo vệ mùa màng, nâng cao thu nhập cho nông dân. Chính vì vậy, công tác BVTV được tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, trong nhiều năm sử dụng, thuốc hóa học BVTV đã bộc lộ những mặt tiêu cực nhất là đối với sản xuất nông nghiệp an toàn, ô nhiễm môi trường và gây ra những hậu quả không mong muốn. Việc lạm dụng thuốc BVTV hóa học cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp tính, mạn tính và nhiều bệnh hiểm nghèo trên người do tiếp xúc với môi trường hoặc ăn phải thực phẩm có dư lượng thuốc. Không những thế, tình trạng giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng xấu đến thiên địch và các sinh vật có ích, hiện tượng kháng thuốc của sinh vật hại và bùng phát dịch hại, ô nhiễm đất, nguồn nước... đã được thực tiễn chứng minh có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng thuốc BVTV hóa học trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh, những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển (như EU, Nhật, Mỹ… ) đang nhập khẩu nhiều nông sản đã đưa ra những quy định pháp luật nghiêm ngặt về mức tồn dư tối đa cho phép đối với các hoạt chất thuốc BVTV trong thực phẩm và tăng cường kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu. Với các phương tiện kiểm tra hiện đại, người ta có thể phát hiện nhanh, chính xác được hầu hết các chất thuốc BVTV hiện có dù chỉ với một lượng vô cùng nhỏ, nếu có mặt trong nông sản thực phẩm. Để vượt qua hàng rào kỹ thuật này, sự lựa chọn khôn ngoan và hiệu quả nhất của người sản xuất và xuất khẩu nông sản là sử dụng các thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học, và đây cũng là một nguyên nhân quan trọng của việc sử dụng rộng rãi hơn, hiệu quả hơn thuốc BVTV sinh học trong thời gian tới.

Giải pháp bền vững và chủ động nhất trong công tác BVTV hiện nay là áp dụng chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp, trong đó coi trọng việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật thân thiện với môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và thiên địch, chỉ sử dụng thuốc BVTV hóa học khi thật sự cần thiết và nâng cao ý thức trong việc sử dụng các thuốc BVTV sinh học. Để đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính phủ ban hành Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 21/4/2017 về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp sinh học đến năm 2030, trong đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và công nghệ, các bộ, ngành, địa phương có liên quan xây dựng nội dung, lộ trình, nhiệm vụ phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2030.

Giai đoạn 2019- 2024, theo dự báo của các chuyên gia và các tổ chức quốc tế có uy tín, thị trường thuốc BVTV sinh học sẽ tăng trưởng khoảng 15- 17%/năm với tổng giá trị khoảng 6,6 tỷ USD vào năm 2024. Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương sẽ là nơi có mức tăng trưởng cao nhất. Các quốc gia có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới như các nước Bắc Mỹ là những quốc gia sử dụng thuốc BVTV sinh học số lượng lớn, chiếm khoảng 45%; các nước thuộc EU chiếm khoảng 20% tổng số lượng thuốc BVTV sinh học trên toàn cầu.

Theo Cục BVTV, báo cáo tổng kết của 10 nước ASEAN năm 2016, cho thấy, Việt Nam là nước đứng đầu khu vực về số lượng và chủng loại thuốc BVTV sinh học. Tính đến tháng 6/2020, trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam do Bộ NN-PTNT ban hành, thuốc BVTV sinh học có 231 hoạt chất với 721 tên thương phẩm, chiếm 18% tổng các thuốc BVTV trong danh mục. Các loại thuốc BVTV sinh học đã được đăng ký chủ yếu bao gồm 3 loại: 1) Thuốc BVTV vi sinh vật (chiếm 16%), 2) Thuốc BVTV nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất từ thảo mộc như tinh dầu quế, dịch chiết từ thực vật (chiếm 20%); 3) Thuốc BVTV thuộc nhóm hóa sinh như Validamycin, Gibberellic acid, Pyrethrins… (chiếm 64%). Và trong 3 năm gần đây, các sản phẩm thuốc BVTV sinh học đề nghị cấp Giấy phép khảo nghiệm đăng ký tăng đều. Trong đó, có nhiều hoạt chất sinh học mới lần đầu tiên được ứng dụng trong BVTV như Anacardic acid, Laminarin, Verticillium chlamydosporium, Quilaja sponarria, Capsacin, Talin...

Bên cạnh những thuận lợi, lĩnh vực thuốc BVTV sinh học còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế để có thể phát triển bền vững. Trước hết, nhận thức về vai trò của thuốc BVTV sinh học và hiểu biết về cách sử dụng để đạt hiệu quả cao của thuốc sinh học còn hạn chế. Sử dụng biện pháp phòng trừ sinh học không có nghĩa là diệt trừ tất cả sâu hại hoặc bệnh hại mà là làm giảm áp lực của sâu bệnh xuống dưới ngưỡng gây hại. Với mục đích này biện pháp sinh học phải được áp dụng chung với biện pháp canh tác phù hợp, ngoài ra phải áp dụng trên diện tích đủ rộng, sử dụng trong thời gian dài thì thuốc BVTV sinh học mới phát huy hiệu quả. Bên cạnh, thuốc BVTV sinh học có tính chuyên tính cao, hiệu lực chậm, không ổn định do bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh và điều kiện sử dụng, chi phí sử dụng thuốc BVTV sinh học cao. Ngoài ra, người nông dân rất ít cơ hội được tiếp cận, tìm hiểu về các mô hình sử dụng thuốc BVTV sinh học trên các cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, an toàn và thân thiện với môi trường.

Bộ Nông nghiệp và PTNT và Cục Bảo vệ thực vật có chủ trương đến năm 2025 phấn đấu tăng số lượng thuốc BVTV sinh học đăng ký lên 30%, tăng số lượng thuốc BVTV sinh học sử dụng lên 20%. Cùng với đó, tăng mô hình, diện tích sử dụng thuốc BVTV sinh học lên 3-5% và tăng 15% số lượng doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất thuốc BVTV sinh học so với hiện nay. Để thực hiện được điều này, các nhóm giải pháp được đưa ra là tập trung vào cơ chế chính sách, khoa học công nghệ, tiêu chuẩn - quy chuẩn, hợp tác quốc tế, xây dựng chuỗi liên kết theo hướng sản xuất nông nghiệp an toàn... Cụ thể, tiếp tục tăng cường nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người sản xuất về vai trò, lợi ích trước mắt và lâu dài của việc sử dụng các chế phẩm sinh học và thuốc BVTV sinh học, hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học. Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác khuyến nông, hướng dẫn nông dân thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, an toàn để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra, cần phải tăng cường công tác quản lý an toàn thực phẩm, lành mạnh hóa thị trường nông sản sạch, an toàn, sản phẩm hữu cơ… nhằm khuyến khích nông dân và doanh nghiệp sản xuất, cung ứng nông sản thực phẩm chất lượng cao, an toàn. Đặt hàng và ưu tiên bố trí kinh phí các đề tài, dự án nghiên cứu phát triển và sản xuất thuốc BVTV sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững.

 

                                                                                      Huy Thảo – Phòng BVTV

 

Các thông tin khác:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 100)
Trang:1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối