Kế hoạch sản xuất Lúa và Rau màu vụ Hè Thu năm 2017
Thứ tư, 15/2/2017

I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA - MÀU VỤ ĐÔNG XUÂN 2015-2016:

1. Tình hình sản xuất lúa: Vụ lúa Đông Xuân 2016-2017 toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm được 58.274 ha, đạt 97% kế hoạch, giảm 4,7% hay 2.876 ha so với cùng kỳ năm trước. Lúa đang ở giai đoạn: mạ 1.322 ha, đẻ nhánh 12.531 ha, đòng trổ 32.918 ha, chắc xanh - chín 5.127 ha và đã thu hoạch 6.376 ha, năng suất ước đạt 5,15 tấn/ha (thấp hơn 0,6 tấn/ha so với cùng kỳ). Trong đó, trà lúa xuống giống sớm (trước và trong tháng 9 dl) bị ảnh hưởng của mưa bão liên tục làm lúa bị đỗ ngã, nấm bệnh phát triển mạnh nên năng suất thấp, những địa phương có năng suất thấp là thị xã Bình Minh (3,00 tấn/ha), huyện Vũng Liêm (4,90 tấn/ha). Ngành nông nghiệp tiếp tục cử cán bộ thường xuyên bám sát địa bàn được phân công theo dõi để khuyến cáo, hỗ trợ người dân trong việc chăm sóc, phòng trừ dịch hại trên diện tích lúa Đông Xuân còn lại trong thời điểm trước, trong và sau tết Nguyên đán nhằm đảm bảo duy trì năng suất lúa đạt so với kế hoạch đề ra.

  2. Tình hình sản xuất rau màu: Vụ Đông Xuân đã xuống giống được 13.584 ha, đạt 61,4% kế hoạch vụ, tăng 0,2% hay 26 ha so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích màu xuống ruộng là 7.809 ha, chiếm 57,5% diện tích xuống giống. Riêng diện tích khoai lang xuống giống được 4.031 ha, đạt 67,2% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước15.483 ha, đạt 66,8% kế hoạch, tăng 7,5% hay 1.084 ha so với cùng kỳ. Các loại rau màu khác lại giảm nhẹ so với cùng năm trước nhưng bù lại giá cả các loại rau màu trong vụ được duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, do điều kiện bất lợi của thời tiết là mưa nhiều vào cuối vụ và kết thúc mưa trễ hơn so với hàng năm đã làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất rau màu phục vụ tết Nguyên đán của tỉnh, dự báo các loại rau màu như: dưa hấu, rau cải, đậu và hoa kiểng các loại sẽ giảm về năng suất và chất lượng.

II. KẾ HOẠCH VỤ HÈ THU NĂM 2017

1. Nguyên tắc: Đảm bảo hiệu quả cho sản xuất của nông dân, tránh thiệt hại do khô hạn và xâm nhập mặn, nhất là ở những vùng có điều kiện khó khăn. Vì vậy, các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nông dân nên cày ải, phơi đất, vệ sinh đồng ruộng, xuống giống đúng lịch thời vụ và áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế dịch hại phát triển. Nên giữ cách ly về thời gian giữa 2 vụ lúa ít nhất từ 3-4 tuần lễ trên cùng một cánh đồng và thống nhất trên toàn tỉnh nhằn ngặn chặn sự lây lan của dịch bệnh, nhất là đối tượng rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa. Những nơi có điều kiện thì nên thay thế một vụ rau màu, thuỷ sản theo hệ thống canh tác phù hợp với từng vùng sinh thái của tỉnh.

2. Diện tích, năng suất, sản lượng

+ Diện tích: 46.000 ha;

+ Năng suất: 5,8 tấn/ha; 

+ Sản lượng: 267.000 tấn. (Chi tiết có biểu bảng kèm theo)

3. Các giải pháp chỉ đạo sản xuất:

3.1 Lịch thời vụ lúa Hè Thu 2017: Căn cứ vào tình hình thực tế, kết hợp với số liệu rầy nâu vào đèn tập trung vào những ngày nữa đầu của tháng (từ ngày 10-15/tháng), trên cơ sở đó khuyến cáo lịch xuống giống tập trung trong 3 đợt chính:

- Đợt 1: xuống giống 10.000 ha, tập trung từ ngày 20/01 - 25/02/2017 (nhằm 3 con nước 25 tháng Chạp, mùng 10 tháng Giêng và 25 tháng Giêng âm lịch). Phân bố tập trung ở những vùng xuống giống lúa Đông Xuân sớm ven Quốc lộ 54 của Trà Ôn, Vũng Liêm, Thị xã Bình Minh và vùng đất gò ven sông Măng thuộc huyện Tam Bình, ven sông Tiền thuộc huyện Mang Thít và Vũng Liêm.

- Đợt 2: xuống giống  30.000 ha, tập trung từ ngày 05/3- 10/4/2017 (nhằm 3 con nước mùng 10 tháng Hai, 25 tháng Hai và mùng 10 tháng Ba âm lịch). Đây là đợt xuống giống chính của tỉnh phân bố tại hầu hết tại các huyện, thị xã, thành phố.

- Đợt 3: xuống giống 6.000 ha, tập trung từ 20/4 - 25/5/2017 (nhằm 3con nước 25 tháng Ba, mùng 10 tháng Tư và 25 tháng Tư âm lịch). Xuống giống số diện tích kế hoạch còn lại, phân bố ở vùng trung tâm, vùng trũng, vùng chưa chủ động bơm tát và vùng chưa có đê bao hoàn chỉnh.

Riêng những vùng có nguy cơ nhiễm mặn cao chỉ nên xuống giống từ sau tháng 5/2017 (lúc thời tiết Nam bộ đã có nhiều mưa và độ mặn trên các sông giảm)

3.2 Cơ cấu giống lúa: sử dụng 80% giống lúa chất lượng cao, giống xác nhận hoặc tương đương. Đặt biệt, đối với những vùng có nguy cơ bị xâm nhập mặn nên sử dụng các giống lúa ngắn ngày, chống chịu mặn khá, kết hợp với bố trí lịch thời vụ né mặn vào giai đoạn trổ bông. Đối với các giống chất lượng thấp (IR50404, ML202,…) sử dụng không quá 20% trong cơ cấu giống cho từng địa phương.

- Nhóm giống chủ lực: OM4900, OM6976, OM5451, OM4218, OM7347...

- Nhóm giống bổ sung: OM6600, OM6162, OM6561, OM10424, …

- Nhóm giống sản xuất thử: LH 8, LH 9, OM 6904, OM 6932,…

- Giống lúa chịu mặn (mức độ trung bình – khá 2-3‰): LH8, LH9, OM6976, OM251, OM5629, OM8017, OM9921, OM6677, OM6162, OM5464, OM8108...

3.3 Làm đất và vệ sinh đồng ruộng: Sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân cần phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng sớm, cày hoặc xới và phơi đất để tiêu diệt mầm bệnh. Nên bắt đầu xuống giống lúa Hè Thu tập trung cách thời điểm thu hoạch lúa Đông Xuân khoảng 3-4 tuần. Hạn chế tối đa việc đốt đồng sạ chay.

3.4 Công tác chuyển giao và ứng dụng tiến bộ KHKT: Khuyến cáo sử dụng cấp giống xác nhận, áp dụng các biện pháp sạ hàng, sạ thưa nhằm giảm lượng giống gieo sạ, mật độ sạ từ 100 – 120 kg/ha. Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, mô hình công nghệ sinh thái, IPM và nguyên tắc 4 đúng, bón phân cân đối; ứng dụng cơ giới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả trong sản xuất.

3.5 Quản lý sâu bệnh: Quan tâm các đối tượng quan trọng như rầy nâu, sâu cuốn lá, nhện gié, chuột, ốc bươu vàng; các loại bệnh đạo ôn, đốm vằn, lem lép hạt, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá… Do đó cần nâng cao vai trò của địa phương trong công tác quản lý địa bàn, đồng thời cử cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp thường xuyên phối hợp với địa phương trong việc vận động, kiểm tra xuống giống và giám sát dịch bệnh. Ứng dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại.

3.6 Công tác thủy lợi: Khẩn trương hoàn thành các công trình, đê bao thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thuộc nguồn vốn tỉnh, vốn Trung ương đầu tư, đồng thời đề nghị các địa phương rà soát lại hệ thống đê bao, thủy lợi nhanh chóng tu sửa những nơi xung yếu, xuống cấp để kịp thời đối phó với tình hình biến đổi khí hậu của thời tiết, đặc biết là tình hình hạn mặn nhằm đảm bảo cho sản xuất.

III. KẾ HOẠCH SẢN XUẤT CÂY MÀU VỤ HÈ THU 2017

1. Nguyên tắc: Cần thực hiện các giải pháp về giống, cơ giới hóa trong sản xuất và xúc tiến thương mại tìm đầu ra cho sản phẩm để đảm bảo nông dân trồng màu có lợi nhuận nhiều hơn trồng lúa. Chú trọng những loại cây có khả năng cố định đạm, cung cấp chất hữu cơ, có thị trường tiêu thụ ổn định và cho hiệu quả kinh tế cao nhằm phát triển cây màu theo hướng an toàn và bền vững. Ở những vùng trồng màu chuyên canh cần thực hiện chế độ luân canh hợp lý hoặc có thời gian cách ly giữa các vụ màu trên cùng một cánh đồng hay cho ruộng ngập nước sau khi thu hoạch để diệt trừ một số loài dịch hại quan trọng. Khuyến cáo nông dân chọn giống tốt, đạt tiêu chuẩn chất lượng và áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật, đảm bảo điều kiện cho vụ màu Hè Thu 2017 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

2. Dự kiến diện tích xuống giống và sản lượng

- Diện tích: 16.340 ha

  - Sản lượng: 302.025 tấn (Chi tiết có biểu bảng kèm theo)

3. Giải pháp thực hiện

- Bố trí cơ cấu sản xuất và công bố lịch thời vụ cho từng vùng: Căn cứ theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Kinh tế các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm, bố trí cơ cấu sản xuất và lịch thời vụ cụ thể cho từng vùng (Chuyên màu, 2 vụ màu – 1 vụ lúa, 2 vụ lúa – 1 vụ màu). Triển khai cho nông dân biết và tổ chức thực hiện xuống giống thích hợp cho từng vùng đúng theo quy hoạch, kế hoạch. Chú ý thực hiện chuyển dịch tăng diện tích sản xuất cây màu trên đất lúa, màu xen vườn cây ăn trái trong vụ Hè Thu, đặc biệt là chọn các loại cây rau màu có hiệu quả kinh tế cao và tích cực đưa giống mới vào sản xuất, chú trọng các giống mới ngắn ngày, năng suất chất lượng cao, đáp ứng theo nhu cầu thị trường.

- Làm đất và vệ sinh đồng ruộng thật tốt: Do đặc điểm tình hình dịch hại xuất hiện ngày càng nhiều, nên thời điểm trước khi xuống giống cần phải vệ sinh đồng ruộng bằng cách thu dọn, tiêu hủy tàn dư thực vật, xới vùi rơm rạ vào đất, xử lý vôi và làm sạch cỏ dại vì đây là nguồn lưu tồn và lây lan quan trọng để cách ly và xử lý mầm bệnh. Đây là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện nhưng rất có hiệu quả. Sử dụng màng phủ nông nghiệp đối với một số cây rau màu phù hợp để hạn chế cỏ dại, bốc thoát phân bón và nước tưới, đồng thời giảm sự gây hại của dịch hại.

- Quản lý sâu bệnh: Cần chú ý thường xuyên theo dõi các đối tượng gây hại như: sâu ăn tạp, sâu tơ, rầy mềm, ruồi đục trái, sâu đục củ (khoai lang); các loại bệnh thán thư, đốm phấn, chạy dây,... Khuyến cáo nông dân áp luân canh cây trồng khác họ, chọn giống đạt tiêu chuẩn, chất lượng thích hợp, làm đất kỹ, trồng với mật độ thích hợp để tiết kiệm giống, bón phân cân đối, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) và phun thuốc theo nguyên tắc 4 đúng để đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để thực hiện tốt mục tiêu sản xuất lúa và rau màu trong vụ Hè Thu năm 2017, các địa phương cần nhanh chóng tập trung tổ chức thực hiện các nội dung sau:

- UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo cho phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Kinh tế thị xã, thành phố rà soát lại tình hình sản xuất nông nghiệp thực tế trên địa bàn và có kế hoạch tổ chức chỉ đạo sản xuất cụ thể cho từng vùng. Những vùng sản xuất lúa 3 vụ không hiệu quả phải bố trí lại mùa vụ theo hướng 2 vụ lúa – 1 vụ màu; 2 vụ lúa – 1 vụ cá; 2 vụ màu – 1 vụ lúa; và 2 vụ lúa. Tham mưu tổ chức triển khai thực hiện đạt hiệu quả kế hoạch sản xuất lúa và rau màu vụ Hè Thu năm 2017, thường xuyên thông tin tình hình, dịch hại, khí tượng thuỷ văn và độ mặn của nguồn nước tưới giúp các địa phương trong tỉnh kịp thời chỉ đạo sản xuất. Tiếp tục phân công cán bộ kỹ thuật phụ trách địa bàn, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra để kịp thời nắm tình hình và đề xuất các giải pháp hỗ trợ, khắc phục thiên tai, dịch bệnh. Chú ý, theo dõi và có kế hoạch phòng chống diễn biến của tình hình hạn hán và xâm nhập mặn. Đặc biệt, cần chỉ đạo tốt việc thực hiện liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản rau màu cho nông dân.

- Đối với các huyện Vũng Liêm, Trà Ôn và Mang Thít xem xét việc bố trí thời vụ sản xuất né ảnh hưởng của hạn và xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại trong sản xuất. Các vùng có nguy cơ xâm nhập mặm từ 2‰­­  trở lên cần tập trung khuyến cáo nông dân tuyệt đối không xuống giống; vùng có nguy cơ xâm nhập nặm dưới 2‰ cho phép nông dân xuống giống lúa khi có hệ thống đê bao, thủy lợi đảm bảo cho việc trữ nước ngọt và các thiết bị, máy móc bơm tưới cung cấp đủ nước ngọt cho sản xuất lúa trong thời gian bị xâm nhập mặn. Nếu không bố trí kịp thời vụ khuyến cáo người dân cày, xới phơi đất đợi có mưa rồi mới xuống giống hoặc chuyển đổi sang trồng màu ở các vùng có đủ điều kiện đáp ứng cho nhu cầu về sản xuất và tiệu thụ nông sản. Tập trung chỉ đạo việc xuống giống phải tập trung, đồng loạt cho từng vùng và phải dứt điểm đúng lịch thời vụ, hạn chế tối đa việc bố trí thời vụ kéo dài ảnh hưởng đến lịch thời vụ ở các vụ tiếp theo. Bố trí lịch thời vụ phải đảm bảo dứt điểm thu hoạch lúa trên đồng vào giữa tháng 11 dương lịch của năm.

- Đối với các đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT như Chi cục Trồng trọt và BVTV, Chi cục Thủy lợi, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Giống nông nghiệp phối hợp với các doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp, các tổ chức cung ứng giống và các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện cụ thể trên từng địa bàn. Kết hợp chặt chẽ với các địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xuống giống tập trung, đồng loạt, theo lịch thời vụ và áp dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa, rau màu, đặc biệt là giảm lượng giống lúa trong gieo sạ.

+ Chi cục Thủy Lợi thường xuyên thông báo tình hình khô hạn và xâm nhập mặn, mưa bão, triều cường cho các điạ phương kịp thời phòng chống. Trong thời gian có nguy cơ bị xâm nhập mặn cao phải cử cán bộ tiến hành đo độ mặn thường xuyên để kịp thời thông báo cho người dân vùng bị ảnh hưởng đối phó. Nhanh chống triển khai và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống khô hạn và xâm nhập mặn năm 2017 của tỉnh, để giúp các địa phương bị ảnh hưởng của hạn và xâm nhập mặn lãnh, chỉ đạo thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất lúa và rau màu 2017.

+ Chi cục Trồng trọt và BVTV thông báo lịch né rầy để các địa phương chủ động phòng chống có hiệu quả; theo dõi sát diễn biến mật số rầy để kịp thời hướng dẫn người dân phòng trị, không để phát triển thành dịch. Ban hành quy trình kỹ thuật sản xuất lúa trong điều kiện hạn và xâm nhập mặn để kịp thời hướng dẫn người dân áp dụng vào trong sản xuất. Đề xuất những chủng loại cây trồng có khả năng chịu hạn, mặn tốt đế khuyến cáo người dân trồng thay thế cây lúa nhằm đảm bảo thu nhập cho người dân trong điều kiện bị ảnh hưởng của hạn, mặn. Chú ý kèm theo việc hỗ trợ các chính sách và các giải pháp kỹ thuật cho việc khuyến cáo người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa.

- Thanh tra Sở phối hợp các đơn vị chuyên ngành tổ chức thường xuyên, đột xuất các đợt thanh, kiểm tra việc kinh doanh giống lúa, giống rau màu, phân bón, thuốc BVTV ngay từ đầu vụ, nhằm ngăn ngừa sản phẩm giả, kém chất lượng và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm./.

Các thông tin khác: